Kỹ thuật làm tranh Đông Hồ

1. Chất liệu làm tranh

Trong bài thơ Bên kia Sông Đuống Hoàng Cầm viết:

 
Tranh Đông Hồ, gà lợn nét tươi trong,
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
 
Ngoài các đặc điểm về đường nét và bố cục, nét dân gian cũng như đặc trưng của tranh Đông Hồ còn nằm ở chất liệu làm tranh. Giấy in tranh Đông Hồ là giấy dó – được làm bằng vỏ cây dó ở trên rừng, theo wikipedia thì giấy dó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc giòn gẫy, ẩm nát. Với đặc tính chống ẩm, giấy dó giúp cho các tác phẩm nghệ thuật không bị ẩm mốc và có tuổi thọ tương đối cao. Theo nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế cho hay thì cây dó này chỉ có ở 3 tỉnh Quảng Ninh, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Giấy dó mang về với bản lớn nguyên sẽ được cắt thành nhiều cỡ, nhỏ nhất là 11x 2cm, lớn nhất là 22x31cm. Sau đó, người ta nghiền nát vỏ con điệp (một loại sò vỏ mỏng ở biển) đem trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn - hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét điệplên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những đường rãnh li ti chạy theo đường quét khiến cho mặt giấy có những đường gân lồi lõm nên khi sờ lên có cảm giác thô ráp như sờ trên mặt vải thổ cẩm. Hiệu ứng thứ đến là do cấu tạo thô ráp, tranh Đông Hồ gần gũi với nét dân dã hơn do đó lột tả được chủ đề mà dòng tranh này thường khai thác. Vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng. Khi làm giấy, có thể pha thêm màu khác vào hồ để tạo thành màu nền. Giấy dó có quết điệp nên người ta thường gọi là “giấy điệp”.
 
Làng nghề Đông Hồ từ xa xưa đã có những liên kết công việc với nhiều làng quê khác. Họ đến với các làng vùng cửa sông Thái Bình, làng biển Quảng Ninh để mua vỏ trai, vỏ sò về nghiền vụn làm chất óng ánh sắc điệp nền tranh; đến với làng Đông Cảo, làng Phong Khê (Bắc Ninh) để có được thứ giấy dó seo với kĩ thuật đặc biệt; và làng Bưởi, làng Yên Thái (Hà Nội) để lấy loại giấy dó có khổ dài dùng in các bộ tranh tứ bình. Những rơm nếp, giành giành, lá chè, hoa hoè… Đông Hồ mua chuyên của một số làng lân cận, làm nguyên liệu chế màu.

Màu sắc được sử dụng trong tranh Đông Hồ là màu tự nhiên: màu đen lấy từ than gỗ xoan, rơm nếp hay than lá tre được ngâm kĩ trong chum vại vài tháng rồi mới sử dụng được; màu xanh lấy từ gỉ đồng hay lá chàm – lá ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc, họ thường dùng để nhuộm quần áo; màu vàng lấy từ hoa giành giành, hoa hòe – loài hoa về mùa hè người ta vẫn dùng để sắc nước uống thanh nhiệt; màu đỏ lấy từ gỗ vang và sỏi son trên núi Thiên Thai; màu trắng lấy từ điệp v.v. Những chất màu thô này được trộn với nhau và hoà với một lượng bột nếp trước khi in để tạo một lớp hồ, làm cho giấy tranh cứng hơn sau khi phơi khô.
 
Làm màu là một công đoạn khó, phải trải qua các khâu chế màu, đồ màu, hãm màu rất công phu, đòi hỏi phải có tay nghề cao mới có thể làm ra loại màu tươi tắn, tự nhiên. Bởi vậy, ngày xưa, có bao nhiêu dòng họ thì có bấy nhiêu cách pha chế màu, nó đã trở thành bí kíp của riêng từng người, bởi vậy không hề truyền ra ngoài mà chỉ truyền cho con cháu. Vậy nên, những ai sành chơi tranh khi nhìn màu sắc của tranh cũng đoán được ra đó là tranh của nhà nào.

Sau khi in thành tranh, kể cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia có sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên.
 
Trên giấy điệp, khi hớn hở, khi thanh thản, những màu nguyên đó rung lên theo ánh sáng. Màu vàng hòe tượng trưng cho sự no đủ, màu vàng rộm lên như cánh đồng lúa chín, màu xanh như lũy tre, màu đỏ gấc như yếm thắm, màu nhiễu tím như thắt lưng, màu đen như váy lĩnh giữa mùa quan họ. Tất cả đều là vật liệu có sẵn trong thiên nhiên mà cuộc đời chúng ăn sâu vào tâm thức người Việt từ thuở xa nào. Bởi vậy, mỗi khi được cầm một bức tranh Đông Hồ trên tay, bao kỉ niệm ấu thơ, tình yêu làng xóm, quê hương, nỗi khát khao quay trở lại cội nguồn dân tộc lại sống dậy trong lòng biết bao người con Việt xa xứ.


Nghe nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế nói về chất liệu làm tranh:
Phỏng vấn nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế

2. Cách in tranh


 


Nghệ nhân làng Đông Hồ đang in tranh
(Nguồn: cinet.vn)

 


Hoạt động in tranh tại nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
(Ảnh: Trần Thanh)

 


Bộ sưu tập các bản khắc cổ có độ tuổi trên dưới 200 của nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
(Nguồn: Báo Thanh Niên)

 


Các bản khắc gỗ ở nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
(Ảnh: Trần Thanh)

 


Mỗi bản khắc là một màu
(Các bản khắc của tranh Đám cưới chuột - Nguồn: cinet.vn)

 

Tranh Đông Hồ không phải là tranh vẽ tay mà được in hoàn toàn bằng tay với các bản màu, mỗi màu dùng một bản. Khi in, dập bản màu nhạt trước, màu đậm sau. Độ lệch các bản màu càng ít thì chất lượng tranh càng cao. In màu xong, cuối cùng mới in bản nét với đầy đủ các nét trong tranh (màu đen). Bản nét có nét to đậm, mềm mại bao quanh lấy những mảng màu to bẹt, đồng bộ, tạo thành một đường viền làm ổn định hình trên tranh. Tranh được in bằng cách bôi màu vào bản khắc gỗ, mỗi màu một bản sau đó ấn khuôn lên giấy. Khâu cuối cùng là chấm sửa bức tranh, gọi là đồ tranh.
 

Các nghệ nhân đang đục bản in tranh
(Ảnh: internet)

 

Màu sắc trong tranh Đông Hồ có 5 màu chủ đạo, vì vậy, thông thường để in một tranh cần phải có 5 bản khắc, in trong 5 lần. Các bản khắc này được làm từ gỗ mít – loại gỗ trắng, có độ bền và độ dẻo cao nên rất thích hợp cho các đường đục nhỏ. Và tất nhiên, vì mỗi kiểu tranh đều mang tính cá thể từng gia đình làm tranh một nên phần lớn các bản khắc gỗ này đều được tự gia đình đó khắc để tự in tranh. Để những bản khắc này đạt đến trình độ tinh xảo thì cần phải có người vẽ mẫu trước. Những người vẽ mẫu và khắc bản in đòi hỏi phải là những người có lòng yêu nghệ thuật, có tâm hồn nghệ sĩ, đức tính tỉ mỉ và phải có kinh nghiệm, tay nghề rất cao. Sau khi đã có bản khắc rồi thì công đoạn in tranh không khó khăn lắm. Nhờ cách in dùng nhiều bản khắc này, tranh Đông Hồ được in với số lượng lớn và không đòi hỏi kĩ năng cầu kì nhiều. Tuy nhiên vì in trên ván gỗ một cách thủ công, nên tranh bị hạn chế về mặt kích thước, thông thường là 22x31cm.

 


Phơi tranh
(Nguồn: Báo Thanh Niên)

 

Nói thì đơn giản là vậy, xong khi đi sâu vào tìm hiểu nghề in tranh thì mới thấy để làm được một bức tranh thì công đoạn in cũng tốn lắm công sức và thời gian. Ví dụ, khi in một bức tranh cần đến 5 bản khắc thì trước tiên, họ in bản khắc thứ nhất lên hàng loạt giấy, sau đó đem những bức tranh chưa thành hình thù đó trải ra sân phơi nắng cho khô màu. Sân chật quá thì đen ra đình, ra triền đê mà phơi. Nghề làm tranh sợ nhất là mưa, sợ nhì là gió. Bởi vậy, khi phơi tranh phải luôn có người canh chừng. Tưởng tượng mà xem, những khi nào ta đi trên con đê sông Đuống khúc qua làng Hồ, nhìn từ trên xuống thấy triền đê toàn là tranh  đang lấp lánh ánh điệp và màu xanh đỏ dưới nắng, lúc đó mới cảm nhận hết được cái ý thơ “Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” của thi sĩ Hoàng Cầm. Cứ như vậy, các bản in sau cũng lại được in hàng loạt rồi lại đen ra phơi cho khô màu, đến bản in thứ 5 mới hoàn thiện. Các công đoạn này phải mấy chừng 2, 3 ngày, nếu phải ngày mưa thì còn lâu hơn.

 

Theo thời gian, qui trình in tranh Đông Hồ đã được phân công hợp lí cho từ trẻ em đến người già, để có thể làm mà như chơi (riêng những người sức vóc khỏe mạnh thì phải đảm nhiệm việc đồng áng). Trẻ em được giao làm các việc đánh màu, quét điệp, phơi tranh, có thể thì căn ke bản in. Người già thì đốt rơm, ủ lá chiết màu, cho đến việc phân bộ bản in, dùng bút chấm sửa các tranh in chưa kĩ... Những việc khó về kĩ thuật và có tính sáng tạo thì do người giỏi đảm đương, làm trong xưởng riêng để giữ bí quyết nhà nghề.
Trần Văn Bình
Đặt mua tranh Đông Hồ trực tuyến Beautiful, Simple, Powerful Learning Platforms Phần mềm học tiếng Anh Ell Scholar

Xem tất cả >>